|
GS. TS. Ngô Văn Lệ
ThS. Lê Nguyễn Minh Tấn
Khoa Nhân học
Trường ĐHKHXH&NV TP.HCM
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một đất nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Quan niệm về tình dục của người Việt vốn rất khắt khe và kín đáo. Mục đích của quan hệ tình dục là sinh con, duy trì nồi giống. Vì vậy, việc quan hệ tình dục luôn gắn liền với hôn nhân. Hành vi quan hệ trước hôn nhân luôn được xem là trái với đạo đức xã hội, là “xấu xa”. Trong đó, người phụ nữ luôn bị lên án là “hư đốn” và khó được tha thứ hơn đàn ông. Quan niệm về giá trị của sự trinh tiết, về cái “ngàn vàng” đã buộc người phụ nữ phải “giữ gìn” và kìm hãm việc quan hệ tình dục trước hôn nhân. Tuy vậy, quan hệ tình dục trước hôn nhân vẫn xảy ra, nhưng nói chung là ít. Từ khi đất nước thống nhất, nhất là sau năm 1986 đến nay, Việt Nam bắt đầu mở cửa với thế giới bên ngoài. Việc giao lưu về kinh tế dẫn đến sự tiếp xúc về văn hóa. Qua các phương tiện truyền thông, báo, đài, internet… giới trẻ ngày càng hiểu nhiều hơn về lối sống của người phương Tây vốn nhìn nhận việc quan hệ tình dục dưới con mắt khá cởi mở. Trong đời sống xã hội, thanh niên quan hệ tình dục trước hôn nhân không bị xem là vi phạm đạo đức xã hội và chữ trinh không được đánh đồng với giá trị của người phụ nữ. Bên cạnh đó, sau khi Đổi mới, các dịch vụ tình dục như bia ôm, karaoke ôm, mại dâm núp bóng massage… ở Việt Nam cũng được mở ra ở khắp nơi. Hoạt động tình dục của người Việt Nam ngày càng trở nên “sôi động” hơn. Những quan niệm khắt khe về đạo đức xã hội theo quan niệm phong kiến đã có những bất cập, không còn phù hợp. Thanh niên ngày càng có xu hướng quan hệ tình dục sớm hơn. Trong những năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng và các nhà khoa học nghiên cứu về xã hội đã lên tiếng về một hiện tượng ngày càng trở nên phổ biến, đó là việc thanh niên thuê nhà sống với nhau trước khi kết hôn. Họ cho rằng, việc sống chung này là hại nhiều hơn lợi. Một mặt, nó vi phạm đạo đức xã hội, mặt khác nó thường dẫn đến những kết thúc “không có hậu”.
Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc thử đi tìm một vài nguyên nhân, mà theo chúng tôi là nguyên nhân chính, đã dẫn đến việc quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên ở Việt Nam nói chung và đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh, một trong những nơi được xem là có thị trường tình dục và việc quan hệ tình dục trước hôn nhân “sôi động” nhất ở Việt Nam.
2. Các nghiên cứu về tình dục ở Việt Nam
Trên thế giới, trong khi ngành y khoa đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tình dục hàng trăm năm nay thì khoa học xã hội lại khá chậm chạp trong việc nghiên cứu các vấn đề tình dục. Nguyên nhân khiến các nhà khoa học xã hội chỉ mới nghiên cứu về tình dục trong vài chục năm trở lại đây, theo GS. Corale Vance của Đại học Columbia (Mỹ) là do lúng túng, do lo ngại những nghiên cứu về tình dục sẽ làm tổn hại đến nghề nghiệp của nhà nghiên cứu, ngoài ra mỗi người đều có một đời sống tình dục cá nhân nên cho rằng mọi người đều hiểu về tình dục...
Trong bối cảnh của Việt Nam, việc nghiên cứu về tình dục thật sự “khởi sắc” khi đại dịch HIV bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Trong 3 con đường lây nhiễm virus HIV, quan hệ tình dục là một con đường khá dễ dàng dẫn đến việc lây nhiễm căn bệnh chết người này nếu người tham gia quan hệ tình dục không sử dụng biện pháp quan hệ tình dục an toàn (bao cao su, không nên quan hệ tình dục qua đường miệng khi không đeo bao cao su…). Với thị trường tình dục ngày càng sôi động càng có nguy cơ dẫn đến những quan hệ tình dục trước hoặc ngoài hôn nhân, chưa kể đến trong số những đối tượng này có những người người tiêm chích ma tuý, những người có nguy cơ lây nhiễm HIV cao nhất thì vấn đề an toàn tình dục ngày càng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu [Nguyễn Trần Lâm, 2004]. Ngoài đối tượng tiêm chích ma túy, gái mại dâm và người đồng tính cũng được đề cập đến là những đối tượng có nguy cơ lây mhiễm HIV cao do quan hệ tình dục không an toàn và tần suất quan hệ tình dục cao [Khuất Thu hồng, Nguyễn Thị Vân, Khuất Thị Hải Oanh, 1997; Vũ Ngọc Bảo, 2004; Nguyễn Anh Tuấn, 2004; Doren Rosenthal, Trần Thị Kim Oanh, 2006].
Bên cạnh những nghiên cứu về tình dục gắn liền với HIV/AIDS, những nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản và quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên Việt Nam cũng ngày được quan tâm. Những nghiên cứu này tập trung tìm hiểu kiến thức, thái độ và việc thực hành liên quan đến vấn đề sức khoẻ sinh sản của thanh niên và trẻ vị thành niên [Nguyễn quốc Anh, Nguyễn Mỹ Hương, 2005]. Riêng về việc quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên ngày nay đã được nhiều tác giả đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Năm 2004, các nhà nghiên cứu của Viện xã hội học và Viện Gia đình và Giới thuộc Viện KHXH Việt Nam kết hợp với Đại học John Hopkin (Mỹ) và các nhà nghiên cứu xã hội học ở Thượng Hải và Đài Loan đã tiến hành một nghiên cứu đề tài “Tình dục trước hôn nhân: nghiên cứu so sánh thanh niên Hà Nội, Thượng Hải và Đài Loan”. Nghiên cứu này đã tiến hành phỏng vấn 6363 thanh niên ở Hà Nội, 6299 thanh niên ở Thượng Hải và 4913 thanh niên Đài Loan. Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh niên Việt Nam có quan hệ tình dục lần đầu thấp nhất (8% đối với nam và 3% đối với nữ so với 37% đối với nam và 29% đối với nữ ở Đài Loan và 18% đối với nam và 12% đối với nữ ở Thượng Hải) [1]. Ơ thành phố phố Hồ Chí Minh năm 2008, các nhà nghiên cứu xã hội học của Viện Phát triển Bền vững Vùng Nam bộ cũng đã thực hiện một đề tài liên quan đến vấn đề này. Đó là đề tài “Hiện tượng chung sống trước hôn nhân của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) trong mối quan hệ với độ ổn định của gia đình trẻ”. Đề tài tập trung phân tích 4 vấn đề chính: việc chung sống trước hôn nhân của giới trẻ tại TPHCM, những nguyên nhân dẫn đến việc chung sống trước hôn nhân, những tác động của việc chung sống trước hôn nhân và những giải pháp giúp đỡ. Trong phần những nguyên nhân chính dẫn đến việc sống chung trước hôn nhân, tác giả phân tích 2 nguyên nhân chính là do vấn đề kinh tế và tâm lý. Trong khi chưa có đủ tiền để làm đám cưới thì việc sống chung cũng giúp cả hai đỡ tốn kém hơn trong đời sống thường nhật ở một đô thị có mức sống vào loại cao nhất ở Việt Nam như TPHCM. Bên cạnh đó, việc sống chung đáp ứng được nhu cầu tình cảm đối với những đối tượng sống xa gia đình. Ngoài ra, tác giả cho rằng còn có một số nguyên nhân khác khiến xu hướng sống chung trước hôn nhân ngày càng trở nên phổ biến như vì tình yêu; vì muốn thõa mãn nhu cầu tình dục (nguyên nhân này được tác giả giải thích là do ngày nay tuổi dậy thì của trẻ em diễn ra khá sớm nhưng tuổi kết hôn lại khá muộn); do sống xa gia đình… Những nguyên nhân được tác giả nêu lên trong nghiên cứu này cho chúng ta một cái nhìn về một hiện tượng đang có xu hướng gia tăng trong xã hội Việt Nam. Một hiện tượng mà chắc rằng nhiều người Việt Nam sẽ cho rằng nó vi phạm đạo đức xã hội và đi ngược lại những truyền thống tốt đẹp của ông cha ta.
Trước những phân tích của các tác giả này về những nguyên nhân dẫn đến việc quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên ngày nay, chúng tôi xin được góp thêm một vài ý kiến về vấn đề này.
3. Những nguyên nhân chính dẫn đến việc quan hệ tình dục trước hôn nhân
Những nguyên nhân được các nhà nghiên cứu của Viện Phát triển Bền vững Vùng Nam bộ đề cập trong đề tài của mình cho thấy có nhiều lý do khác nhau để thanh niên sống chung trước khi kết hôn. Chúng tôi cũng đồng ý rằng đó là những lý do mà thanh niên thường giải thích cho hành vi tình dục trước hôn nhân của mình. Những nguyên nhân vì lý do kinh tế, xa nhà, thiếu thốn về tình cảm, vì tình yêu hay thoã mãn nhu cầu tình dục là những nguyên nhân mà chúng tôi cho rằng chúng mang tính “cổ điển”. Những nguyên nhân này rất dễ dàng được nhận thấy và cũng dễ dàng dùng để giải thích cho một hành vi mà dưới con mắt của xã hội là “không tốt”. Có phải đây là những nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng sống chung trước hôn nhân của thanh niên ngày nay hay không? Theo chúng tôi, nó còn có những nguyên nhân khác nếu chúng ta xem xét vấn đề trong một bối cảnh rộng lớn hơn.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, Việt Nam không muốn tụt hậu buộc phải tham gia vào cuộc đua đầy cam go này. Những tiếp xúc rộng rãi với quốc tế mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Bên cạnh những lợi ích có thể thấy rõ là kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế… thì cũng có nhiều vấn đề bất cập mà các quốc gia, nhất là những nước nghèo quan tâm là những tiếp xúc văn hoá có thể sẽ làm thay đổi đời sống văn hóa đã hình thành từ lâu đời của quốc gia đó. Ơ Việt Nam, những lo ngại này đã có từ thời ông cha ta. Vì vậy, triều đình phong kiến thường hạn chế cho dân chúng tiếp xúc với thương buôn nước ngoài hoặc lập những thương cảng hoặc thành phố ở xa đất liền để hạn chế việc tiếp xúc với văn hóa ngoại bản như việc lập ra thành phố Vân Đồn…
Việt nam từ sau Đổi Mới, những tiếp xúc với nước ngoài ngày càng diễn ra nhiều hơn và được nhà nước khuyến khích. Trong đó, việc tiếp xúc văn hóa thường diễn ra thông qua phim ảnh, báo, đài, internet… giúp người Việt Nam, nhất là thanh niên hiểu hơn về đời sống văn hóa của các dân tộc trên thế giới, trong đó có đời sống tình dục. Như đã đề cập trong phần đặt vấn đề, việc thanh niên hiểu được quan niệm của xã hội phương Tây về vấn đề tình dục xem như một động thái “cởi trói” cho những đè nén về tình dục bấy lâu của người Việt Nam. Quan niệm về chữ trinh, về sự “trong sạch” trong mối quan hệ nam nữ đã nhạt dần trong một bộ phận không nhỏ của giới thanh niên, ít nhất là với nhóm thanh niên chấp nhận xu hướng quan hệ tình dục trước hôn nhân. Theo chúng tôi, sự tiếp xúc về văn hóa qua sự trợ giúp của truyền hình, internet… đã cung cấp cho giới trẻ Việt Nam, những người luôn nhạy cảm với cái mới, những kiến thức về những thế giới cởi mở hơn về vấn đề tình dục đã ảnh hưởng đến quan niệm và thực hành tình dục của một bộ phận không nhỏ thanh niên Việt Nam ngày nay.
Bên cạnh đó, như các nhà nghiên cứu của Viện Phát triển Vùng Nam bộ đã đề cập, những thanh niên sống chung trước hôn nhân phần lớn là những thanh niên sống xa nhà. Họ là những người đã “thoát ly” khỏi gia đình và cộng đồng, làng xóm, hay nói khác đi, họ đã “thoát ly” khỏi sự kìm cặp của gia đình và nhất là ít bị ràng buộc bởi dư luận xã hội. Di cư đến một thành phố khác, họ trở thành những “người lạ”, những người không còn phải chịu những áp lực nặng nề của cộng đồng thân quen của họ. Họ đã trở thành những người “tự do” đối với quan niệm xã hội của họ. Sự thoát ly này cho giới trẻ hoàn toàn có quyền tự quyết về các hành vi của bản thân mình, trong đó có hành vi tình dục. Nếu như trước đây, sống trong cộng đồng, làng xóm mà có quan hệ tình dục trước hôn nhân, thanh niên, nhất là nữ thanh niên phải chịu những dư luận nặng nề của cộng đồng nơi họ sinh sống. Họ có thể bị khinh rẻ, kỳ thị và khó có thể lập gia đình. Giờ đây, họ không còn bị những ràng buộc đó nữa. Đối với nhóm thanh niên sống trong các đô thị lớn như TPHCM, không gian di chuyển rộng rãi hơn so với nông thôn, vì vậy theo chúng tôi họ cũng dễ dàng thoát ra khỏi quan niệm cộng đồng và dễ dàng có quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Tóm lại, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc quan hệ tình dục trước hôn nhân. Chúng tôi cho rằng có thể chia các nguyên nhân này thành hai nhóm khác nhau. Đó là nhóm nguyên nhân “dễ nhìn thấy” như tình yêu, kinh tế, thõa mãn tình dục… mà các nhà nghiên cứu của Viện Phát triển Vùng Nam bộ đã đề cập và nhóm nguyên nhân sâu xa hơn chính là sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây được tìm hiểu qua các phương tiện truyền thông đại chúng và sách, báo và quan trọng hơn đó là sự thoát ly khỏi gia đình và cộng đồng làng, nên không còn bị chế định của dư luận xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Khuất Thu Hồng, Nghiên cứu tình dục ở Việt Nam: những điều biết và chưa biết, Hà Nội, 1997.
2. Nguyễn Quốc Anh, Daniel Weitraud, Nguyễn Mỹ Hương, Metherdith Caplan, Sức khỏe sinh sản vị thành niên, Nxb. Lao động Xã hội, 2005.
3. Nguyễn Trần Lâm, Người tiêm chích ma túy ở Việt Nam: các động thái về nguy cơ mắc AIDS và các mối quan hệ tình dục, Nxb. Y học, 2004.
4. Vũ Ngọc Bảo, Mại dâm ở Việt Nam: các tác động tới dự phòng HIV/AIDS?, Nxb. Y học, 2004.
5. Doren Rosenthal, Trần Thị Kim Oanh, Lắng nghe những người mại dâm nữ tại Việt Nan –những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tình dục an toàn của họ khi quan hệ tình dục với khách hàng và bạn tình, Nxb. Thế Giới, 2006.
6. Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba – Việt Nam hội nhập và phát triển, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008.
7. Lưu Phương Thảo, Hiện tượng chung sống trước hôn nhân của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với độ ổn định của gia đình trẻ, đề tài do Sở KHCN TPHCM tài trợ, 2008.
[1] Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba – Việt Nam hội nhập và phát triển, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008, tr.270, 271. |